Văn hóa -Xã hội

QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ VÀ CHUYỆN VỀ NGÔI MIẾU CỔ Ở XÃ AN BÌNH, HUYỆN THOẠI SƠN

05:12 07/08/2019

Vài nét về quá trình định cư ở vùng đất An Bình Xã An Bình – huyện Thoại Sơn ngày nay là một phần đất của làng Vọng Thê rộng lớn xưa kia. Theo các cụ lớn tuổi ở địa phương cho biết: Đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, vùng đất này vẫn còn hoang sơ, rừng tràm bạt ngàn. Vì kế sinh nhai, một số người dân ở vùng xung quanh núi Ba Thê đã vô đây khai thác tràm, tạo ra những lõm trống. Khi Pháp chuẩn bị cho xáng múc kênh Ba Thê (kênh Mướp Văn) thì một số người dân đã đến khu vực hai bên bờ kênh (ấp Phú An, Phú Bình bây giờ) định cư sinh sống.
Responsive image

Năm 1930, kênh múc xong, người dân ở theo bờ kênh để khai phá đất trồng lúa mùa, những giống lúa dài ngày, sạ vào đầu mùa mưa (tháng 4 tháng 5), cây lúa vươn theo nước lũ, từ khi sạ đến khi thu hoạch thời gian kéo dài 7 - 8 tháng (mùa nước nổi khoảng từ tháng 7 đến tháng 11 âm lịch hàng năm). Những năm 30 của thế kỷ XX, người dân mới khai phá đến ngàn nhất, ngàn nhì, có nơi đến ngàn ba (1.000 đến 3.000 mét tính từ bờ kênh Ba Thê).

Dần dần, cư dân ở các nơi về đây khai phá đất đai sinh sống ngày càng đông đúc hơn (chủ yếu là người Chợ Mới). Đến khoảng năm 1957-1958, khu vực An Bình đã được khai phá hết.

Ngày 30-11-1959, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng khu trù mật Ba Thê, gom tất cả dân về ở trong khu trù mật nên khu vực ấp Phú An, Phú Bình, Phú Hiệp (bây giờ) lại trở thành “vùng trắng” (không có người ở). Năm 1961, chính quyền ngụy dời quận lị từ Núi Sập về Ba Thê, cho xây dựng ấp chiến đấu núi Trọi, gom những người dân sống rải rác xung quanh về khu vực chân núi Ba Thê để kiểm soát, lập ấp chiến đấu Hạc Phong thuộc khu trù mật Hạc Phong. Năm 1964, chính quyền ngụy dời quận lỵ trở về Núi Sập, người dân ở khu vực này mới được hồi cư.

Nhìn chung, thời gian trước giải phóng, người dân định cư ở khu vực An Bình rất thưa thớt. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, một số gia đình ở miền Bắc di cư vào đây, định cư dọc theo lộ 15 và vành đai núi Trọi để làm kinh tế, tăng thêm nguồn nhân lực ở địa phương.

Cùng với chính sách thu hút nguồn nhân lực để khai thác hết tiềm năng đất đai của tỉnh An Giang, người dân ở Chợ Mới và các nơi khác đã đến địa phương khai phá trước đây có điều kiện định cư, sinh sống lâu dài, làm cho dân cư ngày càng đông đúc. Sự phát triển về mọi mặt của địa phương đã tạo điều kiện cho đơn vị hành chính xã An Bình chính thức được thành lập vào năm 2005.

Chuyện về ngôi miếu linh thiêng

Buổi đầu khi mới khai phá vùng đất An Bình, với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, lại phải luôn đối phó với thú dữ, giặc ngoại xâm nên người dân An Bình đã nêu cao tinh thần đoàn kết, chung lưng đấu cật với nhau để tồn tại và lưu giữ những nét đẹp, truyền thống văn hóa dân tộc.

Trong đời sống tâm linh, người dân An Bình tin tưởng vào sự linh thiêng của các thần linh gắn bó với đời sống tinh thần của con người.

Khi số người định cư dọc theo hai bên bờ kênh Ba Thê ngày càng đông thêm, cùng với truyền thống làm nông nghiệp trồng lúa nước, người dân ở khu vực này có nguyện vọng lập miếu thờ Thần Nông[1], mong Thần phù hộ cho công việc làm ăn. Năm 1939, miếu được lập bằng cây lá đơn sơ trên diện tích đất khuôn viên 1.700 m2 do người dân hiến tặng, cùng với 6.200 m2 đất ruộng để “từ miếu” canh tác, chăm lo việc hương khói cho miếu. Từ đó, miếu chính là nơi người dân gởi gắm niềm tin về sự phù hộ độ trì của Thần cho cuộc sống của mọi người luôn được sung túc.

Năm 1946, Miếu Thần Nông đã được chọn làm điểm tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Người dân xã Vọng Thê (gồm xã An Bình, Vọng Thê, thị trấn Óc Eo, xã Vọng Đông, Tây Phú bây giờ), từ 18 tuổi trở lên nô nức đi bỏ phiếu để lựa chọn những đại biểu xứng đáng đại diện cho cả dân tộc. Khi Pháp trở lại xâm lược, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” “vườn không nhà trống” của chính quyền, người ta phá miếu không để cho Pháp đóng đồn. Tuy nhiên, “Thần” thì luôn được người dân bảo vệ, gìn giữ trong quá trình tản cư.

 24 năm sau (năm 1972), người dân nơi đây mới có điều kiện xây dựng lại Chánh điện của miếu. Sau nhiều lần trùng tu, tôn tạo, miếu Thần Nông hiện nay trở lại đúng quy mô ban đầu nhưng kiên cố, khang trang hơn.

Chánh điện của miếu thờ Thần Nông và một thanh đao bằng xương gắn răng cá Ông, có ý nghĩa là biểu tượng của người xưa khi mới về vùng đất phương Nam khai hoang, mở cõi. Người lưu dân đi mở đất nhưng luôn hướng về nguồn cội như nhà thơ – chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ từng viết:

“Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Tương truyền miếu rất linh thiêng. Riêng chuyện thanh đao, ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1948, làm “từ miếu” từ năm 2009 cho biết: “Khi làm từ miếu, ngày đêm tôi ở tại miếu để chăm lo việc dọn dẹp, cúng kiếng. Đây là một ngôi miếu rất linh thiêng. Tuy nhiên vào ban đêm, lâu lâu tôi lại bị ma tà về ám ảnh, quấy phá nên ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi rất sợ nên vái Thần rằng: “Nếu linh thần cho con làm “từ miếu” thì đừng cho con thấy vậy”. Sau đó Thần linh ứng ngay. Một đêm vào năm 2012, Thần về báo mộng: “Ngươi ở miếu mấy năm rồi, có thanh đao để trên đầu tủ mà không biết. Sao không lấy ra để trừ tà?”. Sáng ra, tôi tìm thấy thanh đao quấn mấy lớp giấy dầu trên đầu tủ, lấy ra để thờ nơi Chánh điện. Từ đó, ma quỷ không dám quấy nhiễu nữa”.

Có lẽ câu chuyện trên có vẻ kỳ bí, nhưng nó cũng chứng minh cho niềm tin của nhân dân nơi đây vào sự linh ứng của Thần: Thần luôn giúp đỡ những người hiền lương và trừng phạt những kẻ dối trá, làm ác.

Hiện nay, trong miếu thờ Tả ban, Hữu ban, Tiên Sư, Cố hương chức Ban chủ sự, bàn thờ Trăm quan Cựu thần có di ảnh anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868) và bàn thờ Tổ quốc; phía trước có miếu Ông Tà[2].

Hàng năm, Ban Chủ sự tổ chức cúng miếu vào 2 ngày chính là 17 tháng 3 và 17 tháng chạp âm lịch (cúng Hạ điền và Thượng điền) để cầu cho Quốc thái, Dân an, mùa màng thịnh vượng, có hàng trăm người đến dự. Chương trình lễ cúng gồm có: chào cờ, tưởng niệm Bác Hồ và các anh hùng liệt sĩ; cúng Tiên; tế Thần Nông tại nền Xã tắc; cúng lễ Túc yết; cúng Ngọ và sau đó là cúng Đàn cả.

Những ngày cúng miếu cũng là dịp để người dân trong vùng tỏ lòng tri ân, thành kính với Thần, đóng góp xây dựng miếu và hơn hết là dịp để ôn lại truyền thống, thắt chặt thêm khối đoàn kết cộng đồng, quyết tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

                                                                           

 

[1] Thần Nông, còn được gọi là Thần Nông thị, Liên Sơn thị, thường được biết với tên gọi Viêm Đế, là một vị thần huyền thoại của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền Văn minh Trung Hoa, một trong Tam Hoàng và được xem là một Anh hùng văn hóa Trung Hoa. Khác với Phục Hy và Nữ Oa, ông là vị Tam Hoàng duy nhất có hình thù là con người toàn vẹn, không nửa người nửa thú như 2 vị kia. Theo truyền thuyết, Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như phát triển nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu Thần Nông thường bách thảo, giáo nhân y liệu dữ nông canh (Thần Nông nếm trăm cây thuốc, dạy dân trồng ngũ cốc). Vì thế, ông còn được xưng là Dược vương, Ngũ Cốc vương, Ngũ Cốc Tiên Đế hay Thần Nông đại đế.

[2] Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, ông Tà có nguồn gốc từ tín ngưỡng của người Khmer và cũng được người Việt tôn thờ. Đó là vị thần mang tên Neak Ta, có quyền năng cai quản trong phạm vi phum sóc hoặc một khu vực rộng lớn hơn. Xưa nay, mỗi dân tộc đều có một sắc thái văn hóa riêng, nhưng trong quá trình cộng cư thường có sự giao thoa văn hóa. Nhiều phong tục, tập quán và tín ngưỡng thường có sự tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau. 

Nguyễn Quốc Khánh

các tin khác
  • <<
  • <
  • 1
  • >
  • >>